Hà là cô bạn chung lớp đại học của tôi. Nhìn bề ngoài, Hà giống mẫu phụ nữ, kín đáo, chăm chỉ và giỏi giang. Hiếm khi nào tôi thấy Hà nói về chuyện gì ngoài học hành và sự nghiệp. Ngày nọ, trong lúc chờ một người bạn khác đến làm việc nhóm, chúng tôi giết thời gian bằng vài câu chuyện vu vơ về tương lai.
“Tớ muốn đẻ con quá!”, Hà nói không chút do dự.
Tôi sững người, chẳng ngờ nổi một cô gái chưa tròn 21 tuổi lại nghĩ đến chuyện sinh con xa xôi. Tuổi 21 có cả tỉ mối bận tâm khác, học hành chưa xong, công việc chưa có, chưa cả độc lập tài chính. Chúng tôi cứ như những đứa trẻ to xác, nào dám tính đến chuyện có hẳn một đứa con.
Nhưng “không tính đến” không có nghĩa là “không muốn”. Riêng Hà chẳng ngại che giấu mong ước có con. Cô đặt cả ảnh đại diện Facebook là gương mặt một em bé kháu khỉnh. Trên story, Hà cũng thường xuyên chia sẻ khoảnh khắc trông con cho chị gái mới vượt cạn. Mong ước lớn thế nhưng Hà lại thở dài: “Muốn thì muốn nhưng tớ sợ không đủ tiền để lo cho con!”
Cũng như Hà, phụ nữ độ tuổi sinh đẻ phải lạc lối giữa cơn bão tranh luận về chủ đề sinh con. Theo khảo sát CÙNG NÓI mà NOI thực hiện năm 2022, 81,3 % trong số 144 phụ nữ được hỏi cho biết thiếu nguồn lực tài chính là lí do họ chưa/không có ý định sinh con. Phụ nữ trưởng thành phải gánh trên vai những áp lực tài chính đến từ chi phí y tế, giáo dục, nhà ở,… ngày càng tăng. Thế hệ đi trước thường cho rằng: “Các cụ ngày xưa nghèo, đẻ rồi vẫn nuôi được đấy thôi!”, hay “đẻ đi rồi mới có động lực phấn đấu”, nhưng trong thời đại mọi chi phí đều ngày càng đắt đỏ, công việc luôn thay đổi nhanh chóng, thật khó để phụ nữ mạo hiểm sinh con khi chưa sẵn sàng về mặt tài chính. Chưa kể nhiều người còn có quan điểm rằng: “Nghèo thì đừng sinh con vì sẽ làm khổ nó”.
Mặt khác, phụ nữ muốn có con cũng sợ hãi cả chiếc đồng hồ sinh học đang đếm ngược từng phút: “con gái có thì”, không sinh con sớm sau này sẽ nhiều bất trắc. Cứ thế, những phụ nữ như Hà phải gồng mình trước nỗi lo tiền bạc, lao vào kiếm tiền để chạy đua với tuổi tác. Sinh con, từ ước muốn đơn thuần lại trở thành một áp lực nặng nề.
Tập trung phát triển sự nghiệp là lí do 69,4% phụ nữ chưa/không muốn có con. Trong một thị trường lao động vốn sẵn những bất bình đẳng, việc có con càng khiến phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi. Child Penalty (tổn thất khi có con) hay Motherhood Penalty (tổn thất khi làm mẹ) chỉ những bất lợi tại nơi làm việc mà phụ nữ gặp phải khi có con. Ví dụ, sự nghiệp của phụ nữ bị gián đoạn sau thời gian nghỉ thai sản, từ đó dẫn đến mức lương bị suy giảm. Ngay cả tại các nước phát triển, phúc lợi xã hội tốt, mức lương của phụ nữ trước và sau khi có con cũng bị giảm mạnh, dao động từ 20 cho tới 60%. Trong khi đó với nam giới cùng trình độ, mức lương trước và sau khi có con thường có xu hướng ổn định hoặc tăng đều.
Bất lợi không chỉ tồn tại trong những con số thu nhập, phụ nữ còn bị ảnh hưởng bởi thiên kiến “làm mẹ”. Nhiều doanh nghiệp vốn mang định kiến “phụ nữ coi trọng gia đình hơn công việc”, vì vậy mà thẳng tay “trừ điểm” khi tuyển dụng ứng viên nữ có ý định sinh con trong tương lai gần hoặc loại bỏ cơ hội thăng tiến của những nhân viên nữ đã có con. Áp lực phải “giỏi việc nước, đảm việc nhà” cũng đặt phụ nữ vào thế tiến thoái lưỡng nan khi phải làm “hai công việc nhưng chỉ một đầu lương” mà không nhận được sự chia sẻ từ bạn đời.
An sinh xã hội, tuy không phải lí do chính, nhưng vẫncũng khiến cho phụ nữ ngần ngại sinh con, nhất là với phụ nữ sinh sống tại các thành phố lớn. Dự định tốt nghiệp xong sẽ ở lại Hà Nội lập nghiệp và sinh sống, Hà không khỏi lo lắng nghĩ về cảnh thăm khám ở các bệnh viện phụ sản và viện nhi, bởi bệnh viện công thì quá tải, còn viện tư thì quá đắt đỏ. Khi con lớn cũng cần đi học, nhưng trường học ở Hà Nội luôn trong tình trạng “thừa người thiếu lớp”, đến mức muốn cho con đi học, phụ huynh phải tìm cách “giành giật”, từ xếp hàng qua đêm đến đóng tiền giữ chỗ.
Mỗi dịp Tết, tôi đều chứng kiến chị em họ bị gia đình giục sinh con. Chỉ vài năm nữa, có lẽ cũng sẽ đến lượt tôi và Hà. Áp lực giờ đây không chỉ đến từ gia đình mà còn là cả xã hội. Khi dân số bắt đầu già hóa, tỉ suất sinh giảm, phụ nữ càng bị đặt nặng trách nhiệm duy trì dân số. Vậy mà, chẳng mấy ai đứng ra giải tỏa những vướng mắc cho phụ nữ, để quyết định sinh con trở nên nhẹ nhàng hơn. Và rồi khi nhiều phụ nữ chọn lối sống không con cái thì ngay lập họ bị gắn mác “ích kỉ”, “vô trách nhiệm”.
“Phụ nữ có quyền quyết định có con hay không, và bao giờ muốn có con” – tôi đã luôn nói với các bạn nữ xung quanh như vậy. Giờ đây tôi nhận ra chỉ nói như thế thôi là chưa đủ. Những phụ nữ như Hà cần phải được động viên rằng: “Làm mẹ tuy vất vả nhưng cũng đầy niềm vui, và sự đủ đầy vật chất không nhất thiết là yếu tố duy nhất quyết định hạnh phúc của một đứa trẻ”. Hơn hết, họ cần phải được tôn trọng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc, được tiếp cận với những dịch vụ an sinh xã hội thuận lợi và an toàn. Việc này cần phải được thực hiện trước khi đưa ra bất cứ thông điệp khuyến sinh nào.

