“Phía sau một người đàn ông vĩ đại là một người phụ nữ cũng vĩ ại không kém.” Chẳng rõ câu nói này xuất phát từ đâu, nhưng có vẻ nó lần đầu được biết đến rộng rãi vào năm 1945, khi Meryll Frost, đội trưởng đội bóng bầu dục của trường Dartmouth, trở lại sân cỏ sau khi chiến tranh để lại cho anh những vết bỏng nghiêm trọng trên khuôn mặt và một chuỗi dài phẫu thuật tái tạo. Mùa thu năm đó anh dẫn dắt đội và năm sau thì trở thành huấn luyện viên. Hiệp hội Ký giả Thể thao Philadelphia đã trao cho anh danh hiệu “Vận động viên Dũng cảm nhất năm 1945.” Khi bước lên nhận giải, anh nói: “Người ta nói đằng sau một người đàn ông vĩ đại luôn có một người phụ nữ. Dù tôi không phải người đàn ông vĩ đại, nhưng đằng sau tôi có một người phụ nữ vĩ đại.“
Người phụ nữ anh nhắc đến, theo một số nguồn, là Pauline, mối tình thời trung học của anh. Măc dù Frost không giải thích cụ thể, không khó để đoán được những gì Pauline đã làm để được coi là “vĩ đại”. Những gì người ta biết về Pauline chỉ là một cái tên, và sự thật rằng cô đã đứng phía sau chồng mình. Trong khi đó, câu nói của Frost lại trở thành một trong những câu cửa miệng được lặp lại nhiều nhất, được bao thế hệ đàn ông mượn lại mỗi khi muốn tỏ ra vừa khiêm tốn vừa ga-lăng. Phiên bản tiếng Việt tương tự của câu nói này là
“Phía sau một người đàn ông thành công là bóng dáng của người phụ nữ”
Sự “vĩ đại” được ngầm hiểu hoặc lược bỏ, và phụ nữ chỉ được hình dung trong hình dạng cái bóng.

Từ lâu, các bộ phim của Nolan đã được xem là lãnh địa của những người đàn ông vĩ đại, đối diện với những lựa chọn đầy mẫu thuẫn đạo đức, có khả năng làm thay đổi lịch sử hay cả vận mệnh nhân loại. Tất cả nhân vật trung tâm của Nolan đều là nam giới. Phụ nữ, nếu xuất hiện, thường xoay quanh những người đàn ông và hiếm khi là chủ thể của cốt truyện. Họ thường xuất hiện trong vai trò người cộng sự (Selina Kyle trong The Dark Knight Rises là đồng minh của Bruce Wayne; Ariadne trong Inception dẫn dắt Cobb đi qua mê cung giấc mơ) hoặc người khơi nguồn cho hành trình của nam chính (Mal trong Inception tồn tại như một ký ức ám ảnh mà Cobb không thể thoát ra; cái chết của người vợ trong Momento trở thành động cơ cho cuộc truy tìm bất tận của Leonard). Với hai bộ phim gần nhất, những nhân vật nữ được đặt trong một vai trò khác: người thu dọn những hậu quả của nam chính để lại trong hành trình theo đuổi lý tưởng.
Trong Oppenheimer, Kitty (Emily Blunt) được mô tả là nóng nảy, nghiện rượu, từng vật lộn với việc chăm sóc con sau sinh, nhưng cũng là người rất “sõi đời”, nhìn thấu những lí tưởng có phần ngây thơ của chồng. Tại phiên điều trần thu hồi giấy phép an ninh của Oppenheimer, Kitty được gọi ra làm chứng. Trước đó, Oppenheimer đã nói với luật sư của mình với sự tự tin tuyệt đối: “Kitty và tôi, chúng tôi đều đã trưởng thành. Chúng tôi đã cùng nhau đi qua nhiều khó khăn, và cô ấy sẽ làm tốt thôi.“
Đúng như thế, Kitty trả lời rất đanh thép trong cuộc thẩm vấn gay gắt mà chính chồng mình, chỉ ít phút trước đó, đã không thể làm được. Oppenheimer cuối cùng vẫn mất giấy phép an ninh và danh tiếng trước công chúng, nhưng chính Kitty là người đã giữ cho ông danh dự. Oppenheimer dĩ nhiên là một người đàn ông đầy mâu thuẫn, vừa kiêu ngạo vừa hèn nhát, vừa lí tưởng vừa mặc cảm. Khi hay tin người tình Jean Tatlock qua đời, người đàn ông dẫn dắt những bộ não hàng đầu trên thế giới sụp đổ, trông yếu đuối như một đứa trẻ, khiến Kitty phải đứng ra kéo ông về thực tại:
“Anh không có quyền phạm tội, rồi bắt tất cả mọi người phải thương xót anh khi hậu quả ập đến.”

Trong bộ phim mới ra rạp The Odyssey, Nolan dường như tiếp tục mối quan tâm lâu năm của mình với những người đàn ông phức tạp, lần này là Odysseus (‘complicated men’ – dẫn lời bản dịch của Emily Wilson). Odysseus của Nolan, khác với Odysseus của Homer, được viết gần với hình ảnh một người lính mang hội chứng sang chấn tâm lý hơn là một kẻ chinh phạt đầy kiêu hãnh. Nolan loại bỏ phần lớn những cuộc ngoại tình của Odysseus với Circe và Calypso trong nguyên tác để tập trung vào một người đàn ông bị chiến tranh ám ảnh và chỉ mong được trở về với vợ.
Trong suốt hai mươi năm Odysseus chinh chiến và lưu lạc, Penelope là người gìn giữ Ithaca, chống chọi với những kẻ cầu hôn cơ hội và duy trì một vương quốc đang dần tan rã. Khi xây dựng nhân vật này, Nolan dường như chịu ảnh hưởng từ The Return của Uberto Pasolini, một bản chuyển thể ít quy mô hơn nhiều, nơi Penelope của Juliette Binoche đặt ra câu hỏi làm đảo ngược toàn bộ huyền thoại huy hoàng về chiến tranh trong tác phẩm gốc:
“Tại sao đàn ông các người lại ra trận? Tại sao bọn họ lại đốt nhà người khác? Tại sao bọn họ lại cưỡng hiếp? Tại sao bọn họ lại giết đàn bà và trẻ em?”
Penelope của Nolan không đơn thuần là người vợ chung thủy mà mang những giằng xé nội tâm rõ rệt. Những cú máy cận liên tục zoom vào gương mặt Anne Hathaway, để lộ sự mệt mỏi, hoài nghi, thậm chí tuyệt vọng của nhân vật khi ngày qua ngày phải đối mặt với những kẻ cầu hôn đang quấy rối, đe dọa và thao túng mình, trong khi không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy Odysseus sẽ trở về. Tại một Ithaca đang rơi vào hỗn loạn, quyền lực chính trị vẫn thuộc về đàn ông – Penelope không có tính chính danh để trị vì, nhưng cũng không thể từ bỏ ngai vàng. Tiếp tục chờ đợi chồng hay chấp nhận cưới một trong những kẻ cầu hôn để lập lại trật tự, vì thế, không chỉ là một lựa chọn của tình yêu hay sự hy sinh mà còn là một bài toán chính trị, một mớ hỗn độn Odysseus để lại, đòi hỏi Penelope phải “dọn dẹp” một cách khéo léo.

Cả Kitty và Penelope đều là những phụ nữ vô cùng sắc sảo và tài giỏi – chính Nolan cũng cố gắng làm nổi bật điều này trong hai tác phẩm – nhưng “cái tài” của họ không giống, hay đúng hơn là không được đặt ngang hàng với những người chồng. Trong khi những người chồng có thể phô diễn tài năng và mưu lược bằng khát vọng, lí tưởng, bằng những cuộc chinh phạt thì tài năng của những người vợ, nếu có được công nhận, thường bị đặt trong thế hậu phương, trong công cuộc vun vén cho người chồng – cũng chính điều đó khiến cho họ kiệt quệ. Những lời có cánh người ta dành cho họ – “chung thuỷ”, “tháo vát”, “vĩ đại” – rốt cuộc chỉ “tô hồng” cho mớ hỗn độn đã bào mòn họ.
“Bà ấy [Penelope] sắc sảo, cứng cỏi, đầy nghị lực, có một trí tưởng tượng phong phú, thuỷ chung, hầu hết thời gian là một người mẹ đơn thân hết mực yêu thương cậu con trai khó tính và thất thường của mình, đồng thời phải quán xuyến một vương quốc lớn, phức tạp suốt hai mươi năm. Chỉ từng ấy thôi cũng đủ để yêu mến bà, và tôi rất yêu mến bà…
…Nhưng trong khi Odysseus có vô vàn lựa chọn, vô vàn bản dạng, vô vàn nơi để đến và con người để gặp gỡ, Penelope chỉ có một lựa chọn duy nhất, được định nghĩa hoàn toàn bởi hôn nhân: hoặc chờ Odysseus trở về, hoặc kết hôn với một người khác. Ngay cả lựa chọn ít ỏi ấy cũng không tồn tại mãi mãi, bởi đến một lúc nào đó, những kẻ cầu hôn hung hãn hoàn toàn có thể ép bà phải khuất phục.” – Emily Wilson, dịch giả nữ đầu tiên dịch trọn vẹn The Odyssey sang tiếng Anh, viết về Penelope cho tờ The New Yorker.
Bản thân Nolan, theo mọi thước đo của ngành công nghiệp, cũng là một người đàn ông vĩ đại, một trong những nhà làm phim được vinh danh nhất. Huyền thoại về “thiên tài đơn độc” đã vô tình che khuất sự thật rằng Nolan không đơn phương độc mã làm phim. Thực tế, Nolan đồng sở hữu công ty sản xuất phim Syncopy cùng vợ mình, Emma Thomas, cũng là nhà sản xuất của tất cả các phim điện ảnh ông từng thực hiện. Trong khi Nolan được ca ngợi như người có tầm nhìn nghệ thuật độc đáo, Thomas là người điều phối vô số quyết định hậu trường, tài chính, lịch quay, nhân sự, hậu cần, những công việc đồ sộ nhưng gần như vô hình đối với khán giả.

“Bất kỳ bộ phim nào bạn yêu thích, nhiều khả năng, đều do một người đàn ông đạo diễn và một người phụ nữ dựng phim, nghĩa là, chính người phụ nữ ấy đã đạo diễn nó…Lúc nào cũng thế, một gã đàn ông tha hồ quay phim rồi một người phụ nữ phải tìm và lắp ghép mạch truyện trong mớ phim hỗn độn dài 18 giờ của anh ta”, diễn viên hài và biên kịch Patton Oswalt đùa trên show hài độc thoại của mình về một sự thật cay đắng của ngành công nghiệp điện ảnh.
Đồng hành cùng Nolan trong khâu dựng phim của The Odyssey là một người phụ nữ tên Jennifer Lame. Trước đó, cô hợp tác với Nolan dựng Tenet và Oppenheimer và nhận được tượng vàng Oscar hạng mục Dựng phim xuất sắc nhất với bộ phim thứ hai. Lần này trở lại với The Odyssey, cô được Nolan giao xử lý gần hai triệu feet phim, tương đương khoảng 90 giờ tư liệu mà Nolan đã quay để rồi rút gọn thành bản phim dài 2 giờ 52 phút mà khán giả xem ngoài rạp. Với thành công của The Odyssey, Lame khả năng cao cũng sẽ nhận được những đề cử danh giá – nhưng dù có tiếp tục được xướng tên và ngợi khen, phần lớn công chúng, truyền thông và giới phê bình vẫn sẽ chỉ nhớ về Nolan. Cũng như việc không nên để những người đàn ông của Nolan chiếm lĩnh màn ảnh và làm lu mờ những người phụ nữ ở hậu cảnh câu chuyện, khán giả có lẽ cũng không nên để cái tên Christopher Nolan che khuất những người đứng sau các bộ phim của ông, rất nhiều trong số đó là những người phụ nữ – họ chắc chắn cũng vĩ đại, nhưng có lẽ trước tiên là mệt mỏi.

