Tôi kết thân với An ngay từ khi mới nhận việc tại chỗ làm hiện tại. Tôi và An đã thực tập tại cùng một tổ chức (dù cách nhau một năm), từng đi du học ở cùng một đất nước, đều cần những cốc cà phê vào đầu giờ sáng và sau giờ nghỉ trưa, và đọc những cuốn sách hợp gu với nhau vào buổi tối. Quan trọng hơn, chúng tôi thích làm việc với nhau, cùng chia sẻ những ý tưởng, lời khuyên, cả những phiền toái với khách hàng hay những trò đùa vô tri trên văn phòng. An khiến cho công việc và cả cuộc sống cá nhân của tôi dễ thở hơn rất nhiều.
Cũng nhờ có An, tôi nhanh chóng kết thân với các đồng nghiệp ở nơi làm việc mới. Mọi người hiểu thêm về tôi qua những câu chuyện giữa tôi và An ở văn phòng, rủ tôi cùng đi ăn trưa, và kéo tôi vào những cuộc buôn chuyện rôm rả.
Tôi dành thời gian ở đây ít nhất 8 tiếng mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần. Thực sự tìm hiểu và làm bạn với những người mà tôi tiếp xúc thường xuyên đến vậy xem ra không phải một điều tệ.
Những người “cùng chiến tuyến”
Tôi có một niềm tin rằng, chia sẻ chuyện vui với người khác thì dễ, còn mở lòng về những điều khúc mắc hay khó khăn lại cần nhiều can đảm và tin tưởng hơn. Nhưng với những vướng mắc trong công việc, còn ai hiểu rõ hơn chính những người đang cùng ta trải qua những vấn đề đó? Lần đầu tiên tôi trò chuyện cởi mở và thoải mái với mọi người ở văn phòng là khi cả nhóm cùng… than thở về một dự án gấp rút với khách hàng khó tính. Chúng tôi không chỉ được “xả” hết cục tức trong lòng mà còn cùng tìm ra những cách để công việc được trôi chảy hơn. Dám than phiền và dám cho phép mình bộc lộ những yếu đuối, theo tôi, là một dấu hiệu của lòng tin.
Lòng tin cũng là chất xúc tác khiến cho mối quan hệ chuyển từ đồng nghiệp đơn thuần sang những người bạn, bằng những câu hỏi dần mang tính cá nhân hoá và những chuyện kể đi xa hơn khỏi những trang Excel hay những bài thuyết trình. Tôi bắt đầu thấy mình hỏi han các chị lớn trong văn phòng về kinh nghiệm trước đây của họ, chia sẻ với hội chị em về gu phim ảnh, sách vở, quan điểm về những sự kiện nóng trong xã hội, và cũng vui vẻ trả lời khi được hỏi cuối tuần vừa rồi tôi làm gì. Trao đổi về sở thích, tính cách và hệ giá trị cũng là một cách để tiếp tục xác định độ tin cậy và quyết định xem có nên xích lại gần họ thêm một chút nữa không.
Văn phòng vẫn là nơi để làm việc, và hoàn thành các mục tiêu công việc vẫn quan trọng hơn là cười nói không ngớt về những chuyện trên trời dưới bể. Song, nhờ có sự gần gũi và thân thiết qua những câu chuyện bên lề, tôi và đồng nghiệp khi trở lại nói chuyện công việc cũng có thể thoải mái, thẳng thắn và trung thực với nhau hơn. Khi đã hiểu ý và biết được phong cách làm việc của nhau, chúng tôi biết cách phối hợp cho nhịp nhàng, tận dụng những điểm mạnh và san sẻ khối lượng công việc để phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh trong cuộc sống của mỗi người.
Nhiều nghiên cứu về mối quan hệ bạn bè tại nơi làm việc cũng có cùng quan điểm rằng tình bạn ở công sở không chỉ mang lại cảm giác thuộc về, sự an toàn và hỗ trợ cho mỗi cá nhân, mà còn thúc đẩy sự sáng tạo, tinh thần học hỏi và hiệu suất chung cho tổ chức. Điều này đặc biệt đúng với phụ nữ, khi có 2/3 nữ giới trong một cuộc khảo sát của Gallup cho biết cam kết gắn bó với công việc của họ cao hơn khi họ có một người bạn thân ở nơi làm việc.
Là bạn hay là bè?
Thương trường là chiến trường, và nơi làm việc, trên hết, vẫn là nơi để mọi người kiếm tiền và tìm những lợi ích cho sự nghiệp. Bởi vậy, cũng dễ hiểu khi nhiều người dè dặt với việc kết thân với đồng nghiệp. Chuyện cá nhân có thể biến thành lời đàm tiếu, nhiệt tình hỗ trợ sẽ bị lợi dụng, còn quan hệ thân thiết với một ai, nhất là cấp trên, sẽ trở thành dị nghị cho sự thiên vị. Hẳn nhiên, những điều này phụ thuộc rất nhiều vào văn hoá tổ chức, tính chất công việc và cách hành xử của mọi người.
Tôi có may mắn khi làm việc ở nơi mà mỗi người đều đề cao sự chân thành, minh bạch – và thực sự sống đúng với những giá trị đó. Song, không phải ai cũng được đặt ở mức độ thân thiết như nhau, và để tránh phức tạp hoá những mối quan hệ ở công sở và không vượt quá những giới hạn, tôi “chia ngăn” cho các mối quan hệ để biết ai thực sự là bạn của mình và cần ứng xử với mỗi người ra sao.
Người bạn thực sự: Kẻ tung người hứng trong các dự án, cùng nâng đỡ nhau vượt qua những cơn bão deadline, quen mặt hết các hàng quán xung quanh văn phòng, chia sẻ mọi chuyện từ công việc đến cá nhân trong giờ giải lao – đây là những người thân thiết nhất ở chỗ làm và cũng là những người bạn cả trong cuộc sống thường ngày. Nhóm này thường bao gồm những người đồng nghiệp cùng độ tuổi, cùng vị trí hoặc cấp bậc, có những sở thích và quan tâm chung, và quan trọng nhất, cùng dành cho nhau sự tin tưởng và chân thành. Họ sẽ không chỉ là những người bạn trong giờ hành chính, bởi chỉ cần một cuộc gọi, chúng tôi lại vẫn có thể tụ tập với nhau vào cuối tuần, và kể cả khi có một người chuyển việc, chắc chắn chúng tôi vẫn đủ gắn kết để giữ liên lạc và gặp lại nhau bên ngoài công việc.
Người bạn thân-ai-nấy-lo: Có những người cũng thường xuyên xuất hiện và góp vui trong những bữa ăn trưa, những buổi cà phê, lại cũng rất nhiệt tình trong công việc và bản thân tôi cũng không ngần ngại giúp đỡ họ. Mối quan hệ này vẫn có nền tảng là sự tôn trọng và tinh thần hỗ trợ, song, liên kết không đủ sâu sắc để tình bạn bắt đầu sớm hơn khi vào làm và kéo dài sau khi tan ca, phần nhiều do sự khác nhau trong lĩnh vực làm việc và cá tính mỗi người.
Tiền bối công sở: Tôi dành nhiều tôn trọng và tình cảm cho các đồng nghiệp lớn tuổi hơn ở chỗ làm, nhất là những người quản lý bậc trung trực tiếp làm việc cùng. Ở các chị, tôi học hỏi về chuyên môn, kinh nghiệm trong công việc, đồng thời xin những lời khuyên về mọi mặt cuộc sống. Họ là những người chị lớn ở văn phòng mà lớp trẻ chúng tôi đều ngưỡng mộ, với đầy đủ những trải nghiệm thu thập được sau những chặng đường đời mà chúng tôi giờ đây mới đang đi qua. Hơn hết, họ cũng sẵn sàng lắng nghe những người trẻ như tôi để biết thêm về cách xã hội đang vận hành với một thế hệ kế cận. Tuy nhiên, tôi sẽ không coi họ là “bạn”, do khoảng cách tuổi tác và khoảng cách quyền lực.
Người chỉ-giao-dịch-công-việc: Nhóm cuối cùng và ít thân thiết nhất là tập hợp của những người tôi ít hợp tác cùng, hoặc không chung mối quan tâm và hệ giá trị, hay thậm chí đã từng vướng phải những xung đột nhỏ do quan điểm và lợi ích không cân xứng. Để tránh những “drama” công sở không cần thiết hay những vấn đề lớn hơn, tôi lựa chọn tương tác với họ ở mức tối thiểu – chỉ trao đổi công việc khi cần và không sa đà chia sẻ những câu chuyện cá nhân.
Kết
Tôi yêu quý và gắn bó với đồng nghiệp ở chỗ làm, nhưng tôi cũng cần có một đời sống riêng bên ngoài công sở, nơi tôi có những người bạn và những mối liên hệ khác được xây dựng trên tình cảm, quan tâm cá nhân hoàn toàn nằm ngoài khuôn khổ công việc. Ta nên kết thân với đồng nghiệp để mỗi ngày đi làm vui vẻ và thoải mái hơn, song cũng không thể chỉ tập trung vào những con người, câu chuyện ở nơi làm việc như thể công việc là điều duy nhất mang lại giá trị trong cuộc sống.
Sau cùng, cuộc sống có gì, nơi làm việc cũng có hết những điều đó: thành công, niềm vui, thất bại, cả những thương tổn và nỗi đau. Chúng ta cần những người bạn thực sự ngay ở đó, bên cạnh chúng ta đi qua tất thảy. Thử hỏi, nếu tôi muốn uống trà sữa vào lúc 3 giờ chiều một ngày trong tuần, nếu không phải những người đồng nghiệp thì còn ai khác có thể cùng tôi hoan hỉ đặt đồ vào lúc đó?

